doisonghanhphuc.com

Nhạt nhòa làng nghề giấy dó

Đứng trước tình hình và nhu cầu của khách thì một vài hộ như gia đình anh chị làm sao xuể? Song thực tế những gia đình còn giữ nghề phải tính nghề kỹ lưỡng, giữ chữ tín trong cái nghề đang teo dần này
Từ Hà Nội ngược theo quốc lộ 1A cách thị xã Bắc Ninh 3 km, phía bên tay trái là làng Đông Cao, quê hương của nghề làm giấy dó…
Làng Đông Cao trước đó thuộc làng có nghề làm giấy dó nổi tiếng tỉnh Bắc ninh và toàn quốc. Giấy dó được đưa về Thuận Thành, làng làm tranh Đông Hồ để phủ điệp cho các nghệ nhân tài hoa vẽ tranh và còn cung cấp cho nhiều tỉnh in, viết chữ nho thời quốc ngữ chưa phát triển.
Tôi đến nhà Đào Văn Chi, đây là một gia đình làm giấy dó truyền thống lâu đời. Mẹ già tuổi ngoài 70 thường khuyên con cháu hãy cố mà giữ lấy nghề. Việc liềm, seo giấy trước đây đều do bà chủ trì, nay con trai, con dâu đảm nhận. Bà là người cần mẫn, luôn chân luôn tay. Bằng bề dày kinh nghiệm bà lường được mức độ tiêu thụ của thị trường mà chỉ đạo con cháu sản xuất.
Tôi đã từng xem hoạ sĩ vẽ tranh trên giấy dó, đã xem tranh dân gian làng Đông Hồ trên giấy điệp. Giấy điệp chính là từ giấy dó mà ra. Người ta lấy vỏ con điệp ngoài biển nghiền nhỏ, mịn hoà với bột nếp quết lên mặt giấy dó rồi hong khô. Khi khô, mặt điệp đanh lại, ánh sáng chiếu vào làm cho những hạt xà cừ ánh lên lấp lánh. Tôi hỏi :
Thưa bà, mỗi tháng tiêu thụ được bao nhiêu tấn giấy.
Cụ cười vui :
Ấy chết ! Không thể tính ra tạ, ra tấn được đâu. Tính theo tờ, theo thếp ! Tôi hiểu mỗi tờ giấy có cỡ 40 x 60 bán ở Hà Nội với giá 1.500 đồng/ tờ. Cỡ 60 x 80 là 2.500 đồng/ tờ. Sức làm việc như anh Đào Văn Chi con trai bà mỗi ngày seo cật lực cũng chỉ nổi 500 tờ đến 550 tờ. Trunng bình 1 ngày seo 400 tờ. Tôi nhẩm tính trung bình mỗi ngày doanh thu của gia đình xấp xỉ 1,5 triệu một ngày ! Con số này quả là không hề nhỏ về kinh doanh…
Giấy dó được làm ra từ cây dó hoặc cây dướng. Dùng vỏ cây dó tốt hơn cây dướng. Người ta bóc vỏ cây dó phơi khô, chặt từng đoạn hoặc để nguyên, ngâm trong nước một ngày một đêm, vớt lên xe nhỏ, lột tước từng lớp cho vào bể. 50 kg vỏ cây dó dùng thêm 10 kg vôi trắng trộn lẫn, dùng chân giẫm đạp, dàn đều giũ đi, giũ lại. Sau cho vào thùng to đun một ngày nữa để nước nguội lại từ từ. Đưa ra hồ, ao hay bể chứa nước giũ sạch. Cho tiếp vào bể ngâm bằng nước lạnh ngày đêm sau đó vớt ra cho vào máy nghiền nhỏ như cháo, lấy những phần tơ cho vào rá rửa kỹ, sạch sao cho trong suốt. Thả vào tàu (bể) dùng 2 gậy dài chừng 1,5 mét khuấy rửa tiếp cho vỏ gỗ nhất (gỗ mò) nghiền thành bột trộn lẫn đều với bột gió chừng nửa giờ. Lấy nhựa bã bộ đổ vào khuấy tiếp, sau một đêm thì đưa lên mành. Tuỳ theo từng kích cỡ của giấy mà làm mành cho phù hợp, tiếp đó là seo giấy. Sản phẩm seo được xếp từng lớp lên nhau, ép hết nước. Căng từng tờ một, bề mặt se se đem phơi nắng. Lúc này mới chính thức cho ta sản phẩm giấy dó. Cây dướng làm giấy không được tốt sau một thời gian thường rỗ, bể mặt, mủn rữa, …
Tất cả từng ấy công đoạn thật là nhọc nhằn, vất vả. Con đường đất nhỏ vào làng Đông Cao khi xưa hai bên là ruộng cấy nay là phố giấy ! Ai có sức cứ làm, đầu tắt mặt tối cần mẫn như con ong cái kiến cũng không kịp cung cấp cho thị trường. Bây giờ thì nghề làm giấy dó cứ teo dần, số gia đình tham gia chỉ còn tính trên đầu ngón tay.
Nhu cầu dùng giấy dó bây giờ không phải là không có đầu ra. Các họa sĩ ở Hà Nội, các tỉnh về đây chọn giấy vẽ. Khách nước ngoài : Nhật, Đài Loan, Thụy Điển, Mỹ, Pháp, … tìm đến đây mua giấy dó. Họ đánh giá cao chất lượng giấy dai, bền, có độ thấm, ưu việt rất nhiều so với giấy xuyến chỉ bên Trung Quốc. Vậy mà chỉ còn vài gia đình sản xuất giấy đó thì làm sao đủ cung cấp cho thị trường? Ông Hoa, con một nghệ nhân Đông Hồ là khách thường xuyên về lấy giấy cho Thuận Thành – cả gia đình ông làm nghề tranh dân gian in trên giấy điệp ở Đông Hồ rất có tiếng. Đứng trước tình hình và nhu cầu của khách thì một vài hộ như gia đình anh chị làm sao xuể? Song thực tế những gia đình còn giữ nghề phải tính nghề kỹ lưỡng, giữ chữ tín trong cái nghề đang teo dần này.
Một làng nghề truyền thống đã đi vào lịch sử. Ấy vậy mà đứng trước những khó khăn đôi khi cũng đành quay lưng lại vốn quý của cha ông. Tôi nghĩ nếu không có một số gia đình như anh chị làm nghề và giữ nghề giấy dó thì nghề này chắc chắn mai một.
10/06/2016 , Nguyễn Trần Thái - Báo Gia đình & Xã hội – Số 3 – 2000

Gửi bình luận

Tên của bạn *
Email *
Cảm nhận *

Bình luận mới